Nông nghiệp, nông thôn Vĩnh Phúc vững bước trên đường đổi mới

12/10/2017

Đã hơn 50 năm kể từ khi Vĩnh Phúc bắt tay vào thực hiện theo phương thức “khoán hộ”, các thế hệ lãnh đạo tỉnh vẫn duy trì, tiếp nối truyền thống lao động sáng tạo này của cố Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc. Quan điểm phải bám sát thực tiễn sản xuất, luôn sẵn sàng đổi mới và hành động chỉ đạo quyết liệt dường như đã trở thành nguyên tắc lãnh đạo, thấm sâu vào đội ngũ cán bộ của tỉnh. Để rồi từ đó, Vĩnh Phúc luôn tạo được hướng đi riêng với những cách nghĩ, cách làm mang tính đột phá để trở thành một trong những địa phương đứng ở tốp đầu cả nước về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp.

Từ dấu ấn Kim Ngọc

Hơn nửa thế kỷ đã qua đi nhưng trong ký ức người dân Vĩnh Phúc, dấu ấn của cố Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc – người cán bộ thương dân với những quyết sách mới, mở ra hướng làm ăn hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho dân vẫn luôn sâu đậm. Khi nhắc đến ông, người ta thường coi đó là “Cha đẻ của khoán hộ”, “Người đi trước thời gian”, “Người mở đường cho tư duy đổi mới về nông nghiệp, nông thôn, nông dân”… 


Chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn, dồn thửa đổi ruộng, thu hút các dự án nông nghiệp,
công nghệ cao đã đem đến cho ngành Nông nghiệp tỉnh bước tiến mới

Đảm nhiệm chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc vào thời điểm miền Bắc nước ta ở tình thế vừa kháng chiến vừa kiến quốc, dù bộn bề công việc, ông Kim Ngọc vẫn luôn dành 1/3 thời gian làm việc của mình để đi cơ sở. Trong những chuyến đi thực tế ấy, từ những lần xắn quần, lội ruộng, cùng nhặt cỏ và trò chuyện với bà con nông dân, tận mắt nhìn phần ruộng 5% của người dân màu mỡ, lúa tốt bời bời trong khi ruộng hợp tác xã chung quanh tốt mà giữa thì xơ xác, năng suất thấp đã giúp ông sớm nhận ra những bất ổn trong quan hệ sản xuất nông nghiệp theo mô hình hợp tác xã. Để rồi, sau nhiều năm trăn trở, chủ trương “khoán” dần dần được thai nghén, hình thành và được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 68, ngày 10/9/1966 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc với tên gọi Nghị quyết “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay”. 

Chỉ sau một năm làm khoán hộ, bộ mặt nông nghiệp của Vĩnh Phúc đã thay đổi rất mạnh, đời sống của nông dân dần được cải thiện. Điều đáng nói là Nghị quyết hợp lòng dân này nhanh chóng được hưởng ứng nhờ tư duy đổi mới “phải dùng mọi biện pháp để kích thích mọi tiềm năng sẵn có của con người với kĩ năng lao động sáng tạo của mỗi người nhằm tăng năng suất lao động”. Năm 1967, toàn tỉnh có 75% số Hợp tác xã áp dụng khoán hộ, 76% số đội sản xuất khoán hộ; trong đó, hơn 70% số Hợp tác xã đạt năng suất lúa từ 5 - 7 tấn/1ha, sản lượng thóc đạt 197.000 tấn, tăng 2,7% so với năm 1964. Khoán hộ cũng chính là bước khởi đầu để Ban Bí thư T.Ư Đảng ra Chỉ thị 100 về công tác khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các Hợp tác xã nông nghiệp và Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 về đổi mới quản lý trong nông nghiệp sau này. 

Đến những “cú hích” đầu tiên

Kế thừa và phát huy những quan điểm, tư duy đổi mới từ Nghị quyết 68, nhất là quan điểm: "Phải để nông dân làm chủ trên mảnh đất của mình” của cố Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc, trong hành trình phát triển nền nông nghiệp tỉnh nhà, Vĩnh Phúc luôn đặc biệt quan tâm đến vai trò của người nông dân. Chỉ một thời gian ngắn sau tái lập tỉnh, Vĩnh Phúc đã được cả nước biết đến khi nhân rộng thành công mô hình trồng cây ngô đông trên nền đất ướt, tạo điểm nhấn quan trọng đưa tỉnh dẫn đầu miền Bắc về sản xuất 3 vụ ổn định trong năm. Vĩnh Phúc cũng là tỉnh đầu tiên trong cả nước thực hiện chính sách cấp đất dịch vụ cho người nông dân khi thu hồi đất để thực hiện dự án. Năm 2005, khi khảo sát việc thực hiện chính sách pháp luật về đất đai ở Vĩnh Phúc, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực đã khẳng định: "Áp dụng chính sách cấp đất cho dân làm dịch vụ khi thu hồi đất để phục vụ phát triển công nghiệp, tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp cho Trung ương bài học giải phóng mặt bằng". 

Tiếp đó, Vĩnh Phúc là tỉnh tiên phong trong việc giảm đóng góp, tăng đầu tư, phát triển nông nghiệp toàn diện thông qua hàng loạt các Nghị quyết, chương trình, đề án đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nông dân. Trong đó, điểm nhấn nổi bật nhất phải kể đến Nghị quyết 03 của BTV Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân được ra đời vào cuối năm 2006.

Thực hiện Nghị quyết trên, HĐND, UBND tỉnh cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách, trong đó, có các chính sách về miễn thủy lợi phí; bồi dưỡng, đào tạo nghề cho nông dân; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, khu chăn nuôi tập trung để nâng cao giá trị sản xuất, từng bước nâng cao đời sống nông dân trong tỉnh. Theo đó, với nguồn kinh phí hỗ trợ khoảng 12 tỷ đồng mỗi năm, trong giai đoạn 2006 – 2010, đã có hàng vạn lượt nông dân trong tỉnh được bồi dưỡng, đào tạo nghề, nắm bắt kỹ thuật áp dụng vào sản xuất. Cùng đó, hệ thống hạ tầng nông thôn được đầu tư đồng bộ; các địa phương hình thành nhiều vùng sản xuất, chăn nuôi tập trung, hiệu quả sản xuất và thu nhập của bà con nông dân tăng rõ rệt. Đặc biệt, với phương châm “giảm đóng góp, tăng đầu tư, phát triển nông thôn toàn diện”, Vĩnh Phúc đã trở thành tỉnh đi đầu cả nước về miễn thủy lợi phí cho tất cả các hộ dân sản xuất trồng trọt, kể cả các hộ là cán bộ, công nhân viên nông trường, trạm, trại. Việc làm này không chỉ giảm được gánh nặng khoảng 45 tỷ đồng thủy lợi phí phải đóng góp mỗi năm của người nông dân mà còn giúp họ có thêm điều kiện đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, có điều kiện đầu tư thâm canh, tăng năng suất; các hợp tác  dịch vụ thuỷ lợi cũng có nguồn kinh phí ổn định hơn nhờ được cấp bù để trang trải hoạt động.  

Theo đánh giá của các ngành chức năng, những dấu ấn trong thực hiện Nghị quyết 03 của tỉnh chính là tiền đề thuận lợi để Vĩnh Phúc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới hiệu quả. Trên thực tế, không chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế nông nghiệp, sớm nhận ra là tỉnh phát triển mạnh về công nghiệp, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, đời sống người dân ở những địa phương lấy đất phát triển các khu công nghiệp ít nhiều bị ảnh hưởng, lãnh đạo tỉnh đã kịp thời có chính sách hỗ trợ thu nhập, hỗ trợ người lao động học nghề để chuyển đổi nghề nghiệp, có việc làm và thu nhập ổn định. Những năm qua, đã có hàng vạn lao động được đào tạo nghề, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh lên 68%; hơn 400.000 lao động được giải quyết việc làm. 

Và tiếp nối dòng chảy đổi mới

Về huyện Vĩnh Tường – địa phương được tỉnh chọn làm điểm về dồn ghép ruộng đất vào những ngày này mới thấy, giờ đây, người nông dân không chỉ quan tâm đến việc chọn giống cây trồng nào, nuôi con gì cho tốt, cho năng suất mà câu chuyện được họ đưa ra bàn luận nhiều nhất vẫn là những lợi ích thiết thực mình và gia đình sẽ được hưởng sau khi địa phương dồn ghép ruộng đất thành công. 

Được biết, cuối năm 2016, trước yêu cầu nhiệm vụ mới về sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 9487 về thực hiện dồn thửa đổi ruộng trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Theo đó, chọn 2 xã Ngũ Kiên và Cao Đại của huyện Vĩnh Tường để thực hiện thí điểm trước khi nhân rộng ra toàn tỉnh. Ngay sau đó, huyện Vĩnh Tường đã lên kế hoạch và lựa chọn thêm 5 xã là Vũ Di, Tuân Chính, Phú Thịnh, Đại Đồng và Việt Xuân cùng với 2 xã được tỉnh chọn thực hiện thí điểm dồn ghép ruộng đất trong năm 2017. Đến thời điểm này, tuy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ song các địa phương được chọn làm điểm đều đang tăng tốc thực hiện các bước cuối cùng để hoàn thành chương trình theo đúng kế hoạch đã đăng ký với tỉnh và huyện. 


Sản phẩm thanh long của tỉnh đã được xuất khẩu sang thị trường Malaysia, 
mở hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp của Vĩnh Phúc

Theo ông Lỗ Tất Chánh, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, tuy những năm gần đây, kinh tế nông nghiệp của Vĩnh Tường đã có những bước phát triển vượt bậc, song trên thực tế, với điều kiện đồng ruộng nhỏ lẻ, manh mún lại nằm rải rác ở các xứ đồng khác nhau sẽ rất khó để nông dân tổ chức sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp, huyện đã xác định dồn ghép ruộng đất là khâu rất quan trọng, có tính chất quyết định tới việc có đưa được cơ giới hóa, khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất hay không. Qua đó, không chỉ góp phần hạ giá thành sản phẩm, xây dựng các vùng chuyên cạnh quy mô lớn mà còn là điều kiện để nông dân liên kết với doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng hóa, xây dựng thương hiệu và nâng cao sức cạnh tranh cho nông sản trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Tuy nhiên, để làm được điều này không hề đơn giản, bởi bên cạnh quyết tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền còn cần tới sự đồng tình ủng hộ cao của người dân và yếu tố quan trọng nhất vẫn là nguồn vốn. Vì vậy, việc được tỉnh chọn làm thí điểm dồn ghép ruộng đất trong năm 2017 đang tạo đà giúp Vĩnh Tường sớm hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, đưa nền kinh tế nông nghiệp huyện nhà vững tin bước vào hội nhập.

Thực hiện dồn ghép ruộng đất chỉ là một trong số các chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp đang được tỉnh quan tâm triển khai. Từ quan điểm “Lấy công nghiệp làm nền tảng để thúc đẩy phát triển nông nghiệp và dịch vụ”, trong giai đoạn 2006 – 2010, nguồn ngân sách tỉnh đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn khoảng 1.000 tỷ đồng, đến năm 2016 khoảng hơn 2.000 tỷ đồng. Tâm điểm là từ năm 2015, khi Vĩnh Phúc bắt đầu triển khai Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2016 - 2020 với những những mục tiêu, chiến lược, giải pháp rõ ràng, cụ thể. Thông qua việc ban hành nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ người dân phát triển nông nghiệp; nhiều cơ chế ưu đãi, đẩy mạnh thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao như: Miễn, giảm tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách Nhà nước; quy định mức hỗ trợ từ 2 - 5 tỷ đồng cho các dự án về đầu tư cơ sở giết mổ gia cầm tập trung, chăn nuôi bò sữa cao sản, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xử lý chất thải, giao thông, điện, nước, nhà xưởng, mua thiết bị, đến nay, đã có khoảng 100 doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này tại Vĩnh Phúc. Ngoài ra, còn xuất hiện nhiều mô hình tổ chức sản xuất mới như: Cánh đồng mẫu lớn ở Tam Dương, Yên Lạc; trồng ngô biến đổi gen ở Hợp Thịnh; thu gom ruộng đất sản xuất quy mô lớn, đưa giá trị sản phẩm trồng trọt bình quân/đơn vị diện tích canh tác tăng lên qua từng năm, đến năm 2016 đạt trên 135 triệu đồng/ha ở các địa phương khác. Trên địa bàn cũng có thêm nhiều Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tổng hợp làm ăn hiệu quả; các loại hình dịch vụ về xây dựng, vận tải, thương mại phát triển đều khắp các vùng, góp phần thúc đẩy và làm sôi động các hoạt động kinh tế khu vực nông thôn. 

Đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẳng định: “Việc đẩy mạnh thực hiện Tái cơ cấu nông nghiệp gắn liền với chuyển đổi lao động nông thôn, dồn thửa đổi ruộng, thu hút các dự án nông nghiệp, công nghệ cao đã đem đến cho ngành Nông nghiệp tỉnh bước tiến mới. Hiện nay, Vĩnh Phúc đang đứng thứ hai của cả nước về xây dựng nông thôn mới với 2 địa phương là Yên Lạc và Bình Xuyên được công nhận huyện nông thôn mới; 77/112 xã được công nhận xã nông thôn mới. Cuối năm 2016, lần đầu tiên sản phẩm thanh long của tỉnh đã được xuất khẩu sang thị trường Malaysia, mở hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp của Vĩnh Phúc”. 

Tiếp nối thành quả đạt được, với quyết tâm xây dựng nền nông nghiệp tỉnh nhà theo hướng hiện đại, bền vững, thời gian tới, ngành Nông nghiệp tiếp tục tham mưu UBND tỉnh đẩy mạnh dồn thửa đổi ruộng, tích tụ ruộng đất để cơ giới hóa sản xuất; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển nông nghiệp công nghệ cao; hình thành, phát triển các hợp tác xã kiểu mới theo hướng chuyên cây, chuyên con; xây dựng, bảo vệ thương hiệu nông sản; kêu gọi các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào sản xuất, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Qua đó, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của dân cư nông thôn; bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại. 

Theo Cổng thông tin - giao tiếp điện tử tỉnh Vĩnh Phúc

http://vinhphuc.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/VanHoaXaHoi/View_Detail.aspx?ItemID=8221

 

Các tin đã đưa ngày: