Đảm bảo phản ánh chính xác quy mô, vai trò, hiệu quả của DNNN

08/06/2018

Vừa qua, Quốc hội đã thực hiện giám sát tối cao về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại DN giai đoạn 2011-2016. Trong quá trình này, một yêu cầu đã được đặt ra là mục tiêu đầu tư kinh doanh của DNNN (DNNN), vốn nhà nước cần bảo đảm đúng chủ trương của Đảng là: Tập trung vào lĩnh vực then chốt, thiết yếu, địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh, những lĩnh vực mà thành phần kinh tế khác không đầu tư; khắc phục triệt để các hạn chế, yếu kém, tồn tại đã được chỉ ra, tiếp tục khẳng định vị trí then chốt là lực lượng vật chất quan trọng của nền kinh tế nhà nước.

Nhiều kết quả tích cực

Nhìn vào cả một giai đoạn có thể thấy, quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại DN và cổ phần hóa DNNN là một chủ trương lớn, quan trọng, được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng. Nội dung các văn kiện của Đảng đã thể hiện tính nhất quán và sự phát triển trong các quan điểm, chủ trương, mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới DNNN, từ đó tạo cơ sở để Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền thể chế hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước.

Việc hoàn thiện thể chế quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại DN và cổ phần hóa DNNN nhìn chung khá đầy đủ, kịp thời hơn so với giai đoạn trước. Theo thống kê của Đoàn giám sát, đã có hàng nghìn văn bản pháp luật được các cơ quan có thẩm quyền ban hành để cụ thể hóa chủ trương sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN của Đảng trong các thời kỳ, từ Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết, Nghị định, Thông tư của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương cho tới các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương.

image

Đại biểu quốc hội tại phiên họp bàn về DNNN chiều 28/5

Trong giai đoạn đầu, hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, nhưng kể từ năm 2013, phần lớn các văn bản có tính nền tảng về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại DN và cổ phần hóa DNNN đã được sửa đổi, ban hành mới. Năm 2014, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN là bước hoàn thiện có tính pháp lý cao nhất về quản lý DNNN. Chính sách, pháp luật về cổ phần hóa DNNN được ban hành dưới dạng Nghị định, Thông tư khá đầy đủ, kịp thời; thường xuyên được tổng kết, sửa đổi tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn.

Về hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại DN 100% vốn nhà nước, mặc dù gặp nhiều khó khăn và bị tác động mạnh do biến động lớn về tình hình thị trường, giá cả, về rủi ro tài chính khi xảy ra khủng hoảng tài chính giai đoạn 2008 – 2012, hoạt động của các DNNN vẫn đạt được một số kết quả tích cực. Tính đến 31/12/2016, sau quá trình cơ cấu lại, cả nước còn 583 DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. DNNN cơ bản thực hiện được vai trò là lực lượng vật chất quan trọng của nền kinh tế, góp phần điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. DNNN chuyển dịch theo hướng chỉ tập trung vào những ngành nghề then chốt của nền kinh tế hoặc những lĩnh vực mà DN tư nhân không đầu tư. Nhiều DNNN đi đầu trong hoạt động chuyển giao công nghệ, hội nhập kinh tế quốc tế, bình ổn thị trường, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Việc bảo toàn và tăng trưởng vốn đạt kết quả đáng khích lệ. Hệ số bảo toàn vốn giai đoạn 2011-2016 của các DN trên 1 lần. Hiệu quả kinh doanh của DNNN xét trên tiêu chí lợi nhuận tạo ra, nộp ngân sách nhà nước có chiều hướng tích cực. Hầu hết các DN đều có lãi và số lãi tăng. Tổng doanh thu năm 2016 đạt 1.515.821 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt 139.658 tỷ đồng, nộp ngân sách phát sinh là 251.845 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2011. Có những DN có năm đạt tỷ suất lợi nhuận cao như Tập đoàn Viettel, Tập đoàn Cao su Việt Nam, Tổng công ty Mía đường. Hiệu suất sinh lợi trên doanh thu của DNNN năm 2015 đạt 5,6%, gần bằng khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài (5,8% năm 2015) và cao hơn nhiều so với khu vực DN ngoài nhà nước giảm (1,9% năm 2015) .

Đối với DNNN có một phần vốn góp, việc thực hiện thoái vốn, thu hồi vốn nhà nước đạt được một số kết quả nhất định. Những DN có quy mô nhỏ, hoạt động trong những lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ đã tích cực chuyển đổi, sắp xếp sở hữu theo hướng cổ phần hóa. Trong giai đoạn 2011-2015, đã thoái vốn nhà nước 26.222 tỷ đồng, thu về 36.537 tỷ đồng, bằng 1,4 lần so với giá trị sổ sách. Qua 11 năm triển khai bán vốn nhà nước, đến 30/9/2017, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đã bán vốn tại 975 DN với giá vốn 7.981 tỷ đồng và thu về 27.473 tỷ đồng gấp 3,4 lần giá vốn.

Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DN có vốn nhà nước có xu hướng tăng trưởng ổn định và phát triển. Giai đoạn 2011-2016, tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân đạt 13%; tổng lợi nhuận kế toán trước thuế tăng 4,3 lần so với năm 2011; tỷ suất lợi nhuận trước thuế/vốn chủ sở hữu bình quân đạt 15%; tỷ suất lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản bình quân đạt 5%.

Việc thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của DN đã được triển khai nghiêm túc, tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ NSNN theo quy định. Năm 2016, các DN có cổ phần, vốn góp của Nhà nước phát sinh phải nộp NSNN 62.967 tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2015.

Vẫn còn quan ngại

Những kết quả tích cực trên là không thể phủ nhận, nhưng dưới góc độ phản biện, các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) vẫn còn nhiều quan ngại.

ĐB Vũ Tiến Lộc (Thái Bình) - Chủ tịch Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam chỉ ra một thực trạng đáng buồn, đó là lẽ ra, DNNN phải đóng vai trò dẫn dắt trong nền kinh tế, nhưng các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của khu vực này lại đang ở vị trí “khóa đuôi”.

Hệ số ICOR của khu vực DNNN luôn cao hơn nhiều so với các thành phần kinh tế khác. Ví dụ, năm 2016 các DNNN phải bỏ ra gần 10 đồng vốn đầu tư mới thu được 1 đồng tăng trưởng, cao gấp gần 2 lần so với mức chi trên 5 đồng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và cao gấp hơn 1,5 lần so với mức trên 6 đồng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Hơn nữa, mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu và tài sản tại các DNNN không chỉ ở mức thấp, mà còn có xu hướng giảm liên tục theo thời gian, từ 16,4% và 6,5% năm 2012 xuống còn 10% và 4,6% năm 2016.

Điểm rất cần lưu ý là xu hướng sụt giảm hiệu quả sử dụng vốn tại các DNNN nêu trên lại diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế đang trên đà phục hồi, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, tức là nó diễn ra ngược chiều với xu thế chung. Điều này cho thấy, những yếu kém của khu vực DNNN chủ yếu là vấn đề nội tại của khu vực này, chứ không phải do những tác động từ môi trường bên ngoài.

ĐB Hoàng Văn Cường (Hà Nội) thì cho rằng: Dù có nhiều cơ chế, chính sách, nhưng nhiều DNNN vẫn chưa thực sự là lực lượng nòng cốt của kinh tế Nhà nước, chưa tương xứng với nguồn lực nhà nước đầu tư; không ít DN và dự án đầu tư kém hiệu quả, thua lỗ, thất thoát. Cơ chế kiểm soát giám sát việc thực hiện quyền, lợi ích của các cơ quan và người đại diện chủ sở hữu Nhà nước còn nhiều bất cập. Tổng tài sản nhà nước tại các DN 100% vốn Nhà nước và DNNN giữ cổ phần là khá lớn, cần đẩy mạnh lộ trình thoái vốn Nhà nước tại DN.

Với số tiền đầu tư dàn trải vào nhiều DN, lĩnh vực và do nhiều cơ quan thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu khiến công tác kiểm soát, quản lý tài chính gặp nhiều khó khăn. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng lãng phí, thất thoát trong việc đầu tư và quản lý vốn đầu tư của Nhà nước, cũng như tình trạng hoạt động kém hiệu quả của nhiều DNNN.

Cần nhìn nhận khách quan về vai trò của DNNN

Những thực trạng trên không phải không có, nhưng ở một góc độ nào đó, cần có cái nhìn khách quan hơn.

Giải trình trước Quốc hội về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho rằng: Hiệu quả hoạt động của DNNN giai đoạn 2011 - 2016 cần phải đánh giá gắn với tình hình suy thoái kinh tế thế giới, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế nước ta và trong điều kiện chúng ta hội nhập sâu rộng. Đồng thời phải gắn với tiến trình cổ phần hóa thoái vốn nhà nước, đánh giá trong bối cảnh sắp xếp đổi mới DNNN được đẩy mạnh nên quy mô của khu vực DNNN có thay đổi.

image

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng phát biểu tại phiên họp chiều 28/5 về 
thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp (DN) 
và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN
) giai đoạn 2011-2016

Cơ cấu tổ chức của DNNN hình thành theo mô hình công ty mẹ, công ty con, hoạt động đầu tư vào DN liên kết, trong đó công ty con chủ yếu là công ty cổ phần. Khi đánh giá hiệu quả DN theo các chỉ tiêu về quy mô doanh thu, quy mô tài sản phải loại trừ một phần hoặc toàn bộ doanh thu tài sản thuộc các công ty con, công ty liên kết theo quy định về hợp nhất báo cáo tài chính của pháp luật kế toán.

Mặt khác, DNNN là khu vực chính thực hiện nhiệm vụ an sinh xã hội, cung cấp dịch vụ sản phẩm công ích và những địa bàn khó khăn và ngay chính sách của chúng ta tới đây trong định hướng sửa Luật Thu nhập DN, Chính phủ sẽ báo cáo với Quốc hội cho phép DNNN làm an sinh xã hội nhưng đưa vào chi phí, điều này không minh bạch. Nếu như làm an sinh xã hội mà lấy từ lợi nhuận sau thuế thì tốt, ngay trong chính sách chúng ta cũng chưa minh bạch, tới đây sẽ phải tính lại, đây là những lĩnh vực địa bàn kinh doanh hiệu quả không cao, hoặc không thuận lợi nên cũng ảnh hưởng giảm chỉ tiêu lợi nhuận chung khi đánh giá hiệu quả của DNNN. “Chúng ta cũng nói chúng ta sẽ làm vào những nơi các thành phần kinh tế khác không làm, ta giao cho DNNN. Do đó, việc đánh giá hiệu quả DNNN cần phải chú ý đến đặc điểm này để đảm bảo phản ánh chính xác quy mô vai trò hiệu quả của DNNN” - Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nhấn mạnh.

Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính

http://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/tttc/r/o/ttsk/ttsk_chitiet?dDocName=UCMTMP123645&_afrLoop=38963389536083317#!%40%40%3F_afrLoop%3D38963389536083317%26dDocName%3DUCMTMP123645%26_adf.ctrl-state%3Dktd69tpwi_139

 
Các tin đã đưa ngày: